Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

HAI ÔNG BÀ GIÀ RA PHỐ (Facebook 2026-04-19)

 2026-04-19



Hai ông bà già ra phố

✪✪✪

Hôm đó (cách hôm nay mấy tuần rồi) vợ chồng mình đi khám bệnh. Quy trình thông thường là: sau khi làm hết các xét nghiệm thì người bệnh chờ kết quả rồi vào phòng bác sỹ chờ tư vấn, kết luận. Bác sỹ kết luận là một chuyện nhưng mình thường tò mò đọc hết bảng chỉ số kết quả xét nghiệm. Mình đặt tên màn đọc này là “vui buồn cùng chỉ số”: đại loại đếm số chỉ số lệch ngưỡng (ngoài ngưỡng bình thường). Nếu số chỉ số lệch ngưỡng mà ít thì tâm trạng vui vui vì nghĩ rằng “bệnh của mình chưa đến nỗi nào”. Còn nếu ngược lại, tức là số chỉ số lệch ngưỡng nhiều thì tâm trạng lúc đó hơi buồn buồn vì “sẽ phải uống nhiều loại thuốc đây, sẽ phải kiêng khem nhiều đây”. Đời mà – đó là tâm lý chung của người có tuổi (và có bệnh).

-

Rất may, hôm đó số “chỉ số lệch ngưỡng” ít nên tâm trạng có phần phấn chấn. (Đấy, niềm vui tuổi già đôi lúc rất trẻ thơ.) Thế làm gì bây giờ? Một ý nghĩ bất chợt đến trong đầu: do bệnh viện mà vợ chồng mình đi khám nằm ở gần trung tâm Hà Nội nên cả hai ông bà già quyết tâm “đi chơi phố một phen”. Vì vậy chủ đề của bài đăng này không phải nói về khám bệnh đâu nhé mà chuyển thành “hai ông bà già ra phố” 😊

Chiếc ba lô vốn của mình vốn là để hồ sơ bệnh án nay lại thành chiếc ba lô du lịch. (Thì cũng phải sành điệu hóa một tý chứ!) Vợ chồng mình khoác ba lô lên vai rồi đi bộ ngược đường Tràng Thi, chỉ một lúc là đến Bờ Hồ (hồ Hoàn Kiếm).

(🔄) À, mà nói băng ngang: mọi người có biết gốc gác tên phố “Tràng Thi” không? Mình đọc trên Internet được biết phố này được xây dựng từ trước năm 1890, lúc đầu có tên là phố Borgnis Desbordes (tên của một sĩ quan cấp tướng trong quân đội viễn chinh Pháp), sau đổi thành “Camps des Lettrés” (tiếng Pháp – có nghĩa là “Trường Thi”). Năm 1945 đổi tên thành phố Tràng Thi, năm 1949 lại đổi tên thành phố Mỹ Quốc (United States Of Amecica Street), rồi sau lại đổi thành phố Tràng Thi như hiện nay. [Mỗi một phố quanh Hồ Gươm thường có bề dày lịch sử riêng của nó – đó là mình giản lược đi đấy chứ nói đầy đủ thì dài cả mấy trang cơ]

Lâu rồi không đi quanh Bờ Hồ. Chiều hôm đó Hồ Gươm phẳng lặng, yên bình, gió thoảng nhẹ, nắng hanh khô pha trộn giữa nắng Xuân và nắng Hè, thật dễ chịu. Hẳn nhiên là vợ chồng mình không chọn lối đi phố Hàng Khay mà đi xuống đường mòn quanh hồ. Dân du lịch thong thả dạo bước, ngắm nghía cảnh quan, lâu lâu lại cầm máy ảnh hoặc smartphone lên chụp ảnh. Đọc báo gần đây thấy nói là Việt Nam đón rất nhiều khách quốc tế (hơn 21 triệu lượt năm 2025). Hôm đó mình mới trải nghiệm chứng thực: khách du lịch quanh Hồ Hoàn Kiếm phần lớn là khách Tây (chữ “Tây” mình đề cập ở đây là ám chỉ người không nói tiếng Việt). Người Việt như vợ chồng mình trở thành “thiểu số”. Thành ra, hai ông bà già cứ ngỡ là đang đi du lịch nước ngoài!

Lên đường Đinh Tiên Hoàng, điểm đầu tiên “bà già” check-in là Tháp Hòa Phong (xem Ảnh 1). Bên trái là hồ còn bên phải là tòa nhà Bưu điện Hà Nội.

(🔄) Lịch sử kể rằng vốn nơi này trước đây là không gian chùa Báo Ân được xây dựng vào khoảng năm 1842 dưới thời nhà Nguyễn, kinh phí do Tổng đốc Hà Ninh là Nguyễn Đăng Giai quyên từ dân chúng. Chùa nằm ở bên đông hồ Hoàn Kiếm, mặt trước quay ra sông Hồng, mặt sau dựa vào hồ. Khu đất có diện tích gần 100 mẫu, gồm 180 gian với 36 nóc, lối kiến trúc phức tạp và cầu kỳ. Tháng 11 năm 1885, thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc xâm lược Việt Nam, bèn tiến hành công việc đổ đất, cạp hồ Gươm và lấp các chỗ trũng ở Hà Nội. Toàn quyền Đông Dương là Jean-Marie de Lanessan ra lệnh đốt các nhà lá quanh hồ Hoàn Kiếm. Năm 1888, Pháp phá hủy chùa Báo Ân để xây nhà bưu điện. Thành ra, ngày nay, chỉ còn duy nhất tháp Hòa Phong phía sau chùa Báo Ân là còn sót lại, đứng đơn độc bên bờ hồ Hoàn Kiếm.

Hai ông bà già lại “tung tăng” đi tiếp phần “phố đi bộ” nằm giữa hồ và đường Đinh Tiên Hoàng. Lâu lâu lại gặp một nhóm khách du lịch “Tây” kèm một hướng dẫn viên du lịch đang thao thao giới thiệu với du khách về Hồ Gươm với hình ảnh Tháp Rùa in bóng xuống mặt nước xanh thẳm như một bức tranh cổ kính, lung linh, huyền ảo thấm đượm hồn Việt.  [Đó là mình đoán mò thế chứ mình cũng không nghe rõ họ nói gì đâu 😊]

Đi tiếp một quãng, nhìn sang bên phải là thấy Tượng đài Lý Thái Tổ, tại vườn hoa Lý Thái Tổ (trước đây là vườn hoa Chí Linh). Tượng đúc đồng nặng 34 tấn, cao 1010cm (tượng trưng cho năm 1010 – năm Đức Vua dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long), khắc họa vua Lý Công Uẩn tay cầm "Chiếu dời đô", tôn vinh người sáng lập kinh thành Thăng Long.

Mình và vợ đi đến chân tượng (không chụp ảnh), kính cẩn chắp tay vái lạy Ngài. Quanh đó có một vài nhóm khách du lịch đang chăm chú lắng nghe hướng dẫn viên du lịch giới thiệu về bức tượng.

Một chi tiết ngoài lề, có lẽ cũng đáng để ghi lại. Hai vợ chồng mình khi vái lạy Đức Vua thì nghe lỏm được một người đứng ngay bên cạnh đang lầm rầm đọc “bản báo cáo thành tích” tâu lên Ngài. Ngôn từ báo cáo rất hiện đại, nghe từa tựa như báo cáo thành tích trong các hội nghị hay như khi chúng ta đọc các báo cáo tổng kết năm trên các báo chính thống 😊 [Thì Đức Vua vẫn hiển linh ở khắp mọi nơi, vẫn lắng nghe lời cầu nguyện và báo công của con cháu dân Việt]

Rời tượng đài Lý Thái Tổ, hai ông bà già lững thững đi tiếp đường ven hồ. Hồ Gươm rợp bóng cây, rất đa dạng, toàn cây cổ thụ và cây bóng mát: lộc vừng, phượng, bằng lăng, liễu rủ, cây gạo, đa, si, sấu và hoa mõ (mủ trôm). Hồ Gươm được ví như lẵng hoa trong lòng Hà Nội; vì đẹp, xinh xắn, quyến rũ… Đoạn mình đi qua phía gần UBND Thành Phố Hà Nội có tới 4 “cây di sản” nổi tiếng. “Cây di sản” là do dân yêu mến Hà Thành, Hồ Gươm đặt tên chứ không do một tổ chức nào phong tặng. Sau đây là đoạn mô tả đăng trên Tạp chí Kiến trúc:

(🔄) Đầu tiên là cây gạo cổ thụ có cành rủ xuống phía hồ. Tiếp theo là cây lộc vừng đại thụ có dáng rất đẹp. Cây lộc vừng này đặc biệt quyến rũ vào mùa thay lá. Tiếp nữa là quần thụ lộc vừng 9 gốc vươn ra phía hồ. Ở quần thụ lộc vừng này có một cái cành còng còng chìa ra, làm mê mẩn bao tay săn ảnh suốt bốn mùa. Cũng gần ngay hai gốc lộc vừng là một cây mõ. Cây mõ này có tán lá xoè ra rất đẹp, lá rực lên trong nắng. Cây này có hai cành lớn rủ xuống như một khuôn hình mà Tháp Rùa là chủ thể. Đặc biệt vào mùa xuân, cây trổ mầm và hoa, khiến bao người ngơ ngẩn; bao tay máy sốt ruột và… bất lực trước vẻ đẹp này. 

Đã đến Hồ Gươm thì hẳn nhiên là phải vào đền Ngọc Sơn. Nhìn từ bên ngoài thì đền Ngọc Sơn nằm trong lòng đảo Ngọc - một doi đất um tùm cây cối nhô lên trên hồ Hoàn Kiếm.

Du khách đến đền đi qua cổng đền (Nghi Môn), đi qua Tháp Bút - đỉnh tháp hình ngọn bút lông, thân tháp có khắc ba chữ "Tả Thanh Thiên" (viết lên trời xanh) rồi đến 2 cổng giữa.

Cổng giữa thứ nhất: hai bên xây hai cửa làm giả kiểu 2 tầng 8 mái. Mặt trước đắp nổi, một bên là hình rồng với hai chữ Long Môn và một bên là hổ trắng với hai chữ Hổ Bảng, tượng trưng cho thành đạt.

Tiếp đến là cổng giữa thứ hai có tường cao, mái, 3 cửa cuốn với cánh cửa gỗ sơn son. Trên mái đặt một nghiên đá, cho nên cổng này cũng có tên là đài Nghiên. [Nên đền Ngọc Sơn gắn liền với tháp Bút – đài Nghiên]

Sau đài Nghiên là cầu Thê Húc cong cong như con tôm son dẫn vào đền.

Trước khi lên cầu Thê Húc vào đền, du khách cần mua vé. (Bật mí: nếu bạn trên 60 tuổi thì sẽ được giảm 50% giá vé.)

“Bà già” check-in hai điểm: cầu Thê Húc (Ảnh 2) và Đắc Nguyệt lâu (Ảnh 3).

-

Hai ông bà già sau khi qua cầu Thê Húc thì lững thững đi vòng quanh đảo. Toàn cây cổ thụ um tùm, rễ cây nửa bám vào đảo, nửa ăn sâu vào lòng hồ tạo một cảm giác cổ kính, lãng mạn.

Phía trước đền chính, trông ra mặt hồ là đình Trấn Ba (đình chắn sóng). Phía trong đảo, đền là một dãy Tam tòa, gồm tòa Tiền đường, tòa Trung đường và tòa Hậu đường (hay còn gọi là Hậu cung). Mình bước vào toàn Tiền đường thấy một cụ già trong trang phục một ông đồ râu tóc bạc phơ với bút nghiên bày sẵn dành cho những ai muốn xin chữ (mình đoán thế). Tòa Trung đường thờ Văn Xương Đế Quân (vị thần chủ quản khoa cử, văn chương), Tòa Hậu đường là nơi thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Ngoài ra có các ban thờ Phật và hệ thống Tam tòa Thánh Mẫu...

Hai bên Tam tòa có 2 gian chái, trong đó gian bên phải là nơi trưng bày hai tiêu bản rùa Hồ Gươm: Di thể của “thần rùa” năm 1967, nặng 250kg, dài 2,1m, ngang 1,2m và năm 2016, nặng 169kg, dài 2,08m, ngang 1,08m.

Mình nhận thấy, tuy nơi này được đặt tên là “đền” (đền là để thờ thần – người có công với đất nước) nhưng lại phối thờ các vị thần, Phật, thánh. Nói một cách văn hoa: đây là nơi thờ “tam giáo đồng nguyên” (Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo) của người Việt.

-

Mình quan sát thấy phần lớn khách “Tây” tay cầm máy ảnh, đi qua các gian của đền, rồi ra ngoài đứng hít thở không khí ở đình Trấn Ba, mắt hướng ra Tháp Rùa, thưởng ngoạn cảnh quan của hồ Hoàn Kiếm. Cũng có một nhóm du lịch (hình như là người Nga) đang chăm chú nghe hướng dẫn viên du lịch nói về sự tích Hồ Gươm (vua Lê Thái Tổ trả gươm cho Rùa thần sau khi đánh xong giặc ngoại xâm) và lịch sử hình thành đền Ngọc Sơn [mình không nghe rõ đâu, đấy là mình đoán thế 😊]

Rời khỏi đền Ngọc Sơn hai ông bà già đi lần theo mép hồ hướng về phía đài phun nước Long Vân, chụp ảnh (Ảnh 4), sau đó quay sang chụp một ảnh khác về quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục mới được tu bổ lại (Ảnh 5). Ảnh là do mình tự chụp, không phải lấy ảnh trên mạng. Bà con ai có hứng thú đọc lai lịch các địa điểm này thì mời đọc lời chú thích ảnh.

Mỏi gối, chồn chân, hai ông bà già tìm nơi uống nước, nghỉ ngơi. Còn chỗ nào hơn là Thủy tạ? Ngay đầu phố Lê Thái Tổ có tòa nhà có hình dáng giống như một con thuyền neo đậu bên hồ, đó chính là Thủy tạ. Mình không đến tòa nhà đó, mà đến “quán nước sân vườn” ngay cạnh. Menu ở đây cũng đề tên là Thủy tạ nên mình nghĩ “vẫn sang” mà rẻ hơn bên tòa nhà kia. [thực ra thì cũng không rẻ lắm đâu]

Khách vào quán phần lớn là “Tây”. Thực đơn được thiết kế gồm tiếng Việt, tiếng Anh cộng với hình vẽ món đồ uống nên rất dễ nhận dạng. Khách chỉ việc cầm thực đơn rồi chỉ vào hình vẽ là được.

Ngồi ở đây rồi nhác nhìn ra hồ tạo một cảm giác thư giãn, thoải mái. Bên kia là đảo Ngọc (trong đảo là đền Ngọc Sơn). Xa xa là Tháp Rùa. Nắng chiều muộn dìu dịu, gió thoang thoảng. Mấy bàn bên kia, sát mép hồ, khách du lịch đang trầm mặc. Bàn bên cạnh có mấy bạn trẻ (hình như là người Thái Lan) đang tranh luận về một chủ đề gì đó. Ở lối vào là một cặp tình nhân trẻ, cô gái xinh tươi mặc váy voan trắng, chàng trai quần jeans áo phông đang lặng lẽ ngắm Hồ Gươm. Thật là thanh bình.

Đến giờ ăn tối. Mà đã đi chơi phố thì phải ăn đồ ăn đường phố (street food). Từ thời xa xưa, cách nay mấy chục năm, mình đã có lần vào quán Bún chả Hàng Mành. Chỉ nhớ mang máng. Thế là hai ông bà già quyết định đi bộ đến đó để trải nghiệm. Cũng không xa lắm – nhân thể ngắm phố phường luôn: ngược lên phố Lương Văn Can, rẽ trái sang phố Hàng Gai, đi tiếp qua phố Hàng Hòm là đến phố Hàng Mành.

Đi mới thấm câu “ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó” - câu hát nổi tiếng trong bài “Hà Nội và tôi” của nhạc sĩ Lê Vinh. Hè phố và đường phố hẹp, khách du lịch lại ngược xuôi nhộn nhịp, vừa đi vừa tránh. Phần lớn các cửa hàng bán đồ lưu niệm bé tí, ai beo béo một tẹo chắc không bước qua được cửa. Nhưng cảm nhận rõ rệt rằng phố cổ Hà Nội cực kỳ thích hợp cho du lịch: chỉ cần lang thang một lúc là đã có thể đi qua cả chục phố!

Hôm đó, hai ông bà già đến quán Bún Chả Hàng Mành ( xem Ảnh 8 ) ở đầu phố, giáp với phố Hàng Nón. Thật ra quán bún chả này chưa phải là quán “xịn” nổi tiếng thuộc “tứ quán bún chả Hà Thành” thường được thực khách sành điệu nhớ đến:

1.      Bún chả Đắc Kim – ngay sát quán mà mình ngồi ăn. [Thật ra “Bún chả Hàng Mành” là nói đến quán này: Bún chả Đắc Kim]

2.      Bún chả Duy Diễm nằm trên phố Ngọc Khánh

3.      Bún chả Sinh Từ nằm ở phố Nguyễn Khuyến

4.      Bún chả Hương Liên (bún chả Obama) nằm ở phố Lê Văn Hưu. Quán này trở nên nổi tiếng sau bữa ăn của cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama khi ông đến thăm chính thức Việt Nam năm 2016.

Tuy nhớ nhầm quán nhưng mình cảm nhận ăn vẫn rất ngon (có thể do đi bộ nhiều rồi đói chăng?) Quán bé tí, bàn ăn kê sát đường. Nghe nói, nổi bật ở đây là sự cầu kỳ trong khâu chọn nguyên liệu. Trong đó, thịt lợn phải là ba chỉ hoặc nách, sau khi băm nhỏ bằng dao sẽ tẩm ướp gia vị, hành tỏi và nước mắm ngon rồi mới nướng trên than.

Ngẫm lại sau chuyến ra phố đó, mình chợt nhớ và nhại mấy câu thơ trong bài “Nghe những tàn phai” của Trịnh Công Sơn và bài “Chân quê” của Nguyễn Bính:

~

Chiều nay em ra phố về

Thấy đời mình là những chuyến rong chơi

Hoa chanh nở giữa vườn chanh,

Tuy mình ở phố nhưng mình vẫn “quê”.

Hôm nọ em đi phố về,

Mùi hồ Hoàn Kiếm đỡ  “quê” hơn nhiều 😊

~~~


 

Ảnh 1: Check-in tại Tháp Hòa Phong.

Đây là di tích cổ duy nhất còn sót lại của chùa Báo Ân, một ngôi chùa lớn xây năm 1842 dưới thời nhà Nguyễn, và ngày nay là một điểm check-in quen thuộc quanh Hồ Gươm.

 

Nói thêm: Tháp cao ba tầng; tầng một có bốn cửa nên còn gọi là "tứ môn tháp", vốn là một kiểu kiến trúc thường thấy trong các công trình Phật giáo. Tầng một có bốn cửa vòm, tầng hai có tô một chữ Phạn lớn; trên bốn vòm là tên từng cửa:

·       Báo Ân môn,

·       Báo Nghĩa môn,

·       Báo Đức môn và

·       Báo Phúc môn.

Tầng thứ ba, trên mặt đông-tây có ghi tên tháp là "Hòa Phong" nhưng 2 mặt bắc-nam lại ghi "Báo Thiên tháp".

-

Ảnh 2: Check-in tại cầu Thê Húc.

(🔄) Thê Húc có nghĩa là nơi đậu lại ánh sáng Mặt trời buổi sớm. Cầu hướng về phía Đông, làm bằng gỗ và sơn màu đỏ, có 32 chân cột tròn, 15 nhịp, sàn và lan can. Cầu được tái thiết vào năm 1897. Năm 1952, cầu được nâng cấp, hình dáng như cũ, song chân cột, dầm thay bằng bê tông cốt thép, mặt cầu và lan can vẫn là gỗ. 

 

-

Ảnh 3: Check-in trước Đắc Nguyệt lâu.

Đắc Nguyệt lâu có nghĩa là lầu lưu lại được ánh Mặt trăng.

Cổng xây 2 tầng. Tầng 2 có 2 mái, 4 mặt với những ô cửa hình tròn. Hai bên cổng có hai bức tranh gắn bằng mảnh sứ vỡ, một bên là bức Long Mã Hà Đồ, bên kia là bức Thần Quy Lạc Thư. 

(🔄) Nói thêm về đền Ngọc Sơn:

Khởi nguyên, vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn, hoàng đế sáng lập nhà Lý, trị vì từ năm 1009- 1028) dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, năm 1010, đặt tên ngôi đền đã có tại đây là Ngọc Tượng và đảo được gọi là Ngọc Tượng sơn.

Đến đời nhà Trần, đền được đổi tên là Ngọc Sơn, là nơi thờ những anh hùng liệt sỹ trong kháng chiến chống Nguyên- Mông (vương triều Trung Quốc, tồn tại năm 1271- 1368).

Lâu ngày đền ấy sụp đổ. Đến thời nhà Lê – Trịnh (1735 - 1739), chúa Trịnh Giang đã dựng cung Thụy Khánh và đắp núi Độc Tôn ở trên bờ phía Đông đối diện với Ngọc Sơn. Cuối đời nhà Lê, cung bị Lê Chiêu Thống (hoàng đế thứ 16 và cuối cùng của vương triều Lê, trị vì 1786 -1789) phá huỷ. Một nhà từ thiện, nhân nền cung cũ đã lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn, sau đổi là đền Ngọc Sơn, vì trong đền chỉ thờ thần Văn Xương Đế Quân và Đức Thánh Trần Hưng Đạo.

Đến năm 1865, nhà nho Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872) đứng ra tu sửa lại đền. Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá xung quanh, xây tháp Bút, đài Nghiên, đình Trấn Ba, bắc một cầu từ bờ Đông đi vào gọi là cầu Thê Húc.

-

Đền là một dãy Tam tòa, gồm tòa Tiền đường, Trung đường và Hậu đường.

Tòa Tiền đường (hay Bái đường) là nơi hành lễ đầu tiên. Chính giữa Bái đường đặt một hương án lớn. Hai bên hương án có đôi chim anh vũ (tức chim vẹt, xuất xứ từ giai thoại con vẹt đã giúp nghĩa quân Lam Sơn tìm thấy quả chín dùng làm thực phẩm khi bị kẻ địch bao vây trong rừng).

Tòa Trung đường thờ Văn Xương Đế Quân (vị thần chủ về công danh, phúc lộc của giới nhân sĩ; Văn Xương hay Văn Khúc là tên một vì sao trên trời), Quan Vũ…là những vị thần được các văn nhân, quan lại, nho sĩ theo quan niệm Nho giáo tôn thờ.

Tòa Hậu đường được xây cao hơn so với Tiền đường và Trung đường. Đây là nơi thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Hai bên tượng Trần Hưng Đạo là tượng Trần Liễu, cha của ông và tượng thần linh Thổ Địa.

Hai bên Tam tòa có 2 gian chái, trong đó gian bên phải là nơi trưng bày hai tiêu bản rùa Hồ Gươm: Di thể của vị về trời năm 1967, nặng 250kg, dài 2,1m, ngang 1,2m và di thể của vị cuối cùng về trời năm 2016, nặng 169kg, dài 2,08m, ngang 1,08m.

Trong đền có một hệ thống hiện vật cổ phong phú với nhiều bia đá, chuông, khánh, tượng thờ, câu đối… có từ thời nhà Nguyễn.

-

Ảnh 4: Đài phun nước Long Vân

(🔄) Khi đi dạo vòng quanh Hồ Hoàn Kiếm nhiều người không khỏi không chú ý tới một đài phun nước mà ít ai biết về những câu chuyện lịch sử ẩn sau nó.

Được biết vào đầu thế kỷ thứ 20, vị trí này là điểm giao nhau của các tuyến tàu điện đi về ba hướng khác nhau của thành phố Hà Nội. Người Pháp đã cho quy hoạch quảng trường và đến năm 1954 đã xây dựng một đài phun nước với vai trò như vòng xoay điều tiết các phương tiện tham gia giao thông khi nhận thấy sự bất cập về vấn đề này.

Ban đầu, công trình được thiết kế đơn giản gồm một bể nước hình tròn, ở giữa có đài phun nước bằng đá giống như một cái đĩa đặt trên bệ hình trụ tròn. Về sau có 2 hình đãi nhỏ hơn được xây lên trên và rồi đài phun nước có ba tầng như hiện tại.

Long Vân là cái tên mà người Hà Nội xưa đặt cho đài phun nước này, lý do là bởi hiệu kem Long Vân nổi tiếng nằm ngay cạnh đó. Ngày nay, quán kem này chỉ tồn tại trong trí nhớ của một số người cao tuổi ở Hà thành.

Những năm 1960-1970, đài phun nước Long Vân được lấp đất trồng cây và xây lại bệ bằng bê-tông, đặt lên đó một cột đồng hồ. Cho tới cuối những năm 1980, đài phun nước được khôi phục chức năng vốn có của mình là phun nước cho cư dân đô thị thưởng lãm.

Chính quyền thành phố chính thức tiến hành tu sửa cho đài phun nước vào thập niên 1990 bằng cách dựng thêm rào chắn cố định quanh nó. Vào năm 2014, thành phố Hà Nội lại một lần nữa cho tu sửa đài phun nước, rào chắn được dỡ bỏ nhằm chào đón sự kiện 60 năm giải phóng thủ đô.

Một số ý kiến cho rằng đài phun nước huyền thoại này có vai trò như một "cột mốc Km 0" của Thủ đô Hà Nội, có ý nghĩa là công trình nằm ở vị trí “trung tâm nhất” của thành phố.

~

Credit: Báo Dân Việt

-

Ảnh 5: Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục

(🔄) Tên gọi của quảng trường gắn liền với một phong trào yêu nước mang tên Đông Kinh Nghĩa Thục của các sĩ phu tại Hà Nội đầu thế kỷ 20. Khu vực quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục trước đây là một bãi đất hoang trồng dừa ven hồ Hoàn Kiếm nên người dân xung quanh thường gọi là Vườn dừa. Sau khi thực dân Pháp sang Việt Nam, quảng trường này được đổi tên thành Place Négrier. Thực dân Pháp đã xem trọng vị trí của quảng trường và coi đây như trung tâm của Hà Nội. Tuy nhiên, sự ưu ái đã kết thúc không lâu sau đó khi những người yêu nước chống Pháp bị chém đầu, xử tử ở ngay tại quảng trường.

Năm 1907, một số sĩ phu yêu nước Việt Nam như Lương Văn Can, Nguyễn Văn Vĩnh đã mở một trường học tư thục mang tên Đông Kinh Nghĩa Thục. Ngôi trường này chủ yếu dạy chữ Quốc ngữ miễn phí cho các học sinh thời Pháp thuộc. Không những là nơi để dạy học, sau đó ngôi trường còn trở thành một địa bàn hoạt động của các sĩ phu yêu nước khắp Hà Nội và một số vùng xung quanh. Để kỉ niệm và tôn vinh ngôi trường này, thị trưởng Trần Văn Lai đã cho đổi tên quảng trường thành Đông Kinh Nghĩa Thục vào năm 1945. Đôi khi, quảng trường này còn được người dân Hà Nội gọi là Đài Phun nước Bờ Hồ.

Theo một nguồn tin ghi nhận, quảng trường Đông kinh Nghĩa Thục còn từng là cột đồng hồ trước khi trở thành đài phun nước như hiện nay. Tháng 5 năm 2010, trước khi Đại Lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội được diễn ra, nhà sử học Đinh Xuân Lâm từng đề xuất với lãnh đạo thành phố Hà Nội cho xây dựng tượng đài tưởng niệm Lương Văn Can, người đứng đầu trong phong trào cách mạng Đông Kinh Nghĩa Thục tại chính giữa quảng trường.

Năm 2013, một cuộc thi về ý tưởng kiến đã được tổ chức với mục tiêu nhằm đưa ra phương án cho việc khôi phục Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục và phố Hàng Đào. Theo đó cuộc thi này được mở ra nhằm thu thập các ý tưởng kiến trúc đáp ứng được việc khôi phục cảnh quan đô thị, kiến trúc, giao thông nhưng tiêu chí bắt cuộc là vẫn giữ được yếu tố kinh doanh và thủ công một cách chặt chẽ với việc sử dụng không gian công cộng. Sau cùng, có 1 phương án đã đạt giải Nhất, còn lại là 1 giải Nhì, 1 giải Ba và 3 giải khuyến khích.

Năm 2017, một tuyến xe buýt 2 tầng ở Hà Nội sẽ có lộ trình từ Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục đến Quảng trường Nhà hát Lớn với 14 điểm dừng đỗ được lên kế hoạch. Tuyến xe này chính thức khai trương vào ngày 30 tháng 5 năm 2018.

~

Credit: Wikipedia

-

Ảnh 6: Check-in tại quán sân vườn cạnh nhà Thủy tạ.

(🔄) Nhà Thuỷ tạ - Con thuyền lãng mạn bên Hồ Gươm

Công trình này đã được xây dựng cách đây gần 100 năm. Vào thời điểm năm 1935, Đốc lí Hà Nội Virgitti đã từng nhận thấy tổng thể khu vực này rất xấu xí, không ăn nhập gì khi đặt trong phối cảnh với Tháp Bút vốn làm say lòng người. Mỗi tối, nhìn từ phố Paul Bert (nay là đoạn phố Hàng Khay), thì góc phố này rất thiếu ánh sáng còn ban ngày thì cảnh sắc không được đẹp mắt. Để làm đẹp các góc của Hồ Gươm, Đốc lí đã đưa ra ý tưởng về một cuộc thi tuyển để xây dựng một quán trà hoặc cà phê với kiến trúc phù hợp khung cảnh nơi đây và có thêm du thuyền qua lại tô điểm cho công trình.

Ý tưởng của Đốc lí được triển khai. Toàn thể thành viên Hội đồng thành phố đánh giá việc xây dựng một nhà thuỷ tạ ở đại lộ  Beauchamp sẽ làm đẹp Hồ Hoàn Kiếm và họ đã nhất trí thông qua dự án tổ chức thi tuyển nhà thầu xây dựng và khai thác công trình này. Một Ủy ban được thành lập để nghiên cứu mời thầu xây dựng và khai thác Nhà Thuỷ tạ gồm Đốc lí làm chủ tịch và các thành viên Hoàng Trọng Phu, Tổng đốc Hà Đông, cựu Tổng đốc Nguyễn Năng Quốc, các uỷ viên Hội đồng Thành phố Lesterlin, Trần Văn Lai, Lacollonge và kiến trúc sư Lagisquet làm thư kí.

Theo báo cáo của của Đốc lí Virgitti tại cuộc họp ngày 12/12/1935, trong số 3 dự án tham gia thi, dự án của nhà thầu Nguyễn Huy Ái ở số 51 phố Hàng Đào được lựa chọn. Hợp đồng được kí kết giữa nhà thầu Nguyễn Huy Ái với Đốc lí Hà Nội Virgitti ngày 20/1/1936, được Thống sứ Bắc Kì thông qua ngày 31/1/1936. Thời hạn khai thác là 14 năm.

Công trình được thiết kế theo kiểu Á - Đông, khánh thành vào ngày 30/12/1936.

Theo bản thiết kế của kiến trúc sư Lagisquet, Nhà Thủy tạ được thiết kế theo kiểu Á - Đông, với mái cong cong và hệ thống cột trụ tròn thả chân xuống mặt hồ rất lãng mạn, nhưng lại phục vụ các dịch vụ kiểu Âu như bar, dancing, concert. Bên cạnh việc kinh doanh đồ uống và cho thuê thuyền, Nhà Thuỷ tạ nổi tiếng hơn về các hoạt động như khiêu vũ, hoà nhạc vào các buổi tối. Việc đóng thuế đóng cửa muộn được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 600 ngày 28/11/1934 của Đốc lí Hà Nội. Thuế được trả bằng vé chợ mua tại Phòng Coi thuế chợ ở Toà Đốc lí ở phố Đinh Tiên Hoàng ngày nay và dán vào cuốn sổ thuế được cấp.

Nhà thầu Nguyễn Huy Ái khai thác Nhà thuỷ Tạ đến cuối năm 1949 và được chính quyền thành phố Hà Nội yêu cầu bàn giao vì hết hạn hợp đồng. Theo bản hợp đồng kí kết năm 1936 thì thời gian kết thúc khai thác là ngày 20 tháng 01 năm 1950. Tuy nhiên, thời điểm đó, nhà thầu Nguyễn Huy Ái cũng có khiếu nại về việc kéo dài thời hạn đến 14 tháng 12 năm 1950 vì thực tế hợp đồng năm 1936 chỉ thực sự kí kết và bản giao ngày 14 tháng 12 năm 1950 để đảm bảo quyền lợi của mình. Thêm vào đó, nhà thầu cũng trình bày về việc kinh doanh gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn 1939 - 1941 và năm 1945 - 1946 do tình hình chính trị và chiến tranh. Mặc dù nhà thầu nhiều lần khiếu nại cũng như thỉnh cầu gia hạn gửi chính quyền thành phố Hà Nội[2] nhưng mọi yêu cầu đều không được chấp thuận. Ngày 22 tháng 12 năm 1950, nhà thầu Nguyễn Huy Ái đã bàn giao lại Nhà Thuỷ tạ cho chính quyền thành phố.

Ngày 04 tháng 9 năm 1951, Thị trưởng thành phố Hà Nội kí Quyết định cho phép Hội Tân Văn hoá được tạm dùng Nhà Thuỷ tạ và sẽ lấy lại khi cần. Theo Quyết định, “bất động sản này có diện tích 600 thước vuông gồm một nhà có gác, một hiên sau trông ra hồ Hoàn Kiếm, một sân thượng, các phòng phụ thuộc”.

Sau đó, vào thời điểm năm 1954, Bình dân Thư viện thuộc Ty Thanh niên và Bình dân Giáo dục Hà Nội từng được đặt tại Nhà Thuỷ tạ. Chính quyền Hà Nội cũng từng được đề nghị để cho thuê lại bất động sản này để thu lợi cho thành phố. Tuy nhiên, do tình hình chính trị nên các quyết định sau đó hầu như không được triển khai.

Sau năm 1954, công trình này được khai thác làm nhà hàng. Tầng hai được lợp mái ngói và thêm cửa kính. Tầng một vẫn để ngỏ cửa ra vào và các khung cửa sổ. Đặc biệt, phần hàng hiên là nơi hấp dẫn nhất đối với du khách ngồi thưởng ngoạn ngay sát mặt hồ.

Toàn bộ kiến trúc Nhà hàng Thủy Tạ thể hiện nét đẹp Việt Nam xưa, gợi nhớ các câu chuyện cổ tích của Hà Nội. Đây là nơi du khách thích thú đắm mình trong khung cảnh êm đềm, khoáng đạt ngay giữa lòng một Hà Nội nhộn nhịp và đổi thay từng ngày. 

Hiện nay, Nhà Hàng Thủy tạ vẫn đẹp lung linh bên hồ Gươm trong mắt người dân Hà Nội và du khách. Trải qua gần 100 năm, Nhà Thuỷ tạ vẫn là một trong các công trình kiến trúc ấn tượng bên Hồ Gươm, là hình ảnh quen thuộc của người Hà Nội cũng như rất nhiều du khách. Người Hà Nội hoặc những ai từng thăm Hồ Gươm đều lưu lại những kỉ niệm khó quên về Nhà Thuỷ tạ với vị kem ngọt ngào trong khung cảnh lãng mạn bên Nhà Thuỷ Tạ.

~

Credit: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia

-

Ảnh 7: Du khách đang thư giãn, uống nước. Phía bên kia là đảo Ngọc – đền Ngọc Sơn.

-

Ảnh 8: Bún chả Hàng Mành.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Round 32 of FIFA World Cup 2026

Round of 32 Main article: 2026 FIFA World Cup round of 32 June 28, 2026 12:00 p.m. UTC−7 South Africa   Match 73   Canada [ Report 73 ] SoFi...