Thứ Hai, 10 tháng 11, 2025

Lễ cưới chú rể Lê Mai Trung & cô dâu Trần Thị Thanh Huyền (con Lê Văn Thái & Đoàn Thị Minh Lý)

Thời gian:        

17 giờ 00 - Thứ Ba, ngày 11 tháng 11 năm 2025 (Nhằm ngày 22 tháng 09 năm Ất Tỵ)

Địa điểm:        

TRUNG TÂM TỔ CHỨC SỰ KIỆN HỘI NGHỊ TIỆC CƯỚI, Royal Queen, 53 Nguyễn Hữu Cảnh - P. Đồng Hới - Quảng Trị

Chú rể:              Lê Mai Trung, Trưởng nam

Cô dâu:             Trần Thị Thanh Huyền, Trưởng nữ


Nhà trai:

Ông: LÊ VĂN THÁI

Bà: ĐOÀN THỊ MINH LÝ

64 Cao Bá Quát

P. Đồng Hới - Quảng Trị


Nhà gái:

Ông: TRẦN VĂN NHÂN

Bà: TRẦN THỊ THANH HÀ

Đường Võ Xuân Cẩn

P. Đồng Thuận - Quảng Trị

\



 

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2025

Ông ngoại Bế Chấn Hưng - by Lê Văn Lợi

Ảnh: nguồn từ bác Bế Trường Thành
Chú Lợi dùng phần mềm Sketch để vẽ phác họa từ ảnh gốc

-

Nhân 102 năm (30/10/1919 – 30/10/2021) ngày sinh của Ông ngoại Bế Chấn Hưng, chú Lợi ghi chép một vài cảm nghĩ, thân gửi đến các thành viên trong gia đình và bạn hữu.

-

Danh xưng Ông ngoại, là cách gọi của bạn Lê Hoàng Đức. Đây là cách xưng hô phổ biến của người Việt: vừa tôn kính vừa gần gũi thân thiết – cha mẹ thay con xưng với bậc sinh thành. Cả chú Lợi và bạn Lê Hoàng Đức đều không được gặp mặt Ông ngoại. Chú Lợi quen cô Vân vào năm 1990-1991, và Ông ngoại mất vào năm 1988 (16/08/1988 DL – 5/7/ năm Mậu Thìn). Bạn Lê Hoàng Đức sinh năm 1993.

-

Chú Lợi viết mấy dòng theo cảm nhận qua các câu chuyện của Bà ngoại, của bác Thành, bác Thân, bác Oanh, bác Yến, của bác Toàn, bác Máy, … và của nhiều người nữa. Vì ghi theo lời kể nên nhiều chi tiết có thể không chính xác – mong người đọc vui lòng “bỏ qua” 😊.

-

Khi vào nhà bác Thành, bác Thân, bước lên phòng khách tầng một, bạn hãy nhìn sang trái. Bác Thành treo một tấm ảnh rất trang trọng. Ảnh có nhiều nhân vật lão thành cách mạng ở Khu tự trị Việt Bắc, có Ông ngoại Bế Chấn Hưng và đặc biệt là có sự hiển diện của Bác Hồ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Điều đó ai cũng biết. Tấm ảnh là một minh chứng rằng Ông ngoại thuộc vào bậc “khai quốc công thần” của chế độ chúng ta đang sống. Rất vinh dự và tự hào!

-

Ông ngoại sinh vào ngày 30 tháng 10 năm 1919, âm lịch là ngày 7 tháng 9 năm Kỷ Mùi tại xã Thụy Hùng, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Tên khai sinh của Ông là Bế Hữu Khiên. Chúng ta biết rằng Ông sinh ra trong thời kỳ các nhân sỹ Việt Nam đang mày mò đi tìm đường cứu nước. Việt Nam lúc đó là thuộc địa của Pháp. Trước đó, cụ Phan Bội Châu tìm đường sang Nhật với phong trào Đông Du. Cụ Phan Chu Trinh phát động phong trào chấn hưng người Việt với khẩu hiệu “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Sự kiện gắn liền với năm sinh của Ông ngoại, để cho dễ nhớ, chúng ta chú ý đến ngày 19 tháng 6 năm 1919, Phan Chu Trinh cùng với Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành (Bác Hồ) soạn bản "Yêu sách của nhân dân An Nam" gửi cho Hội nghị Versailles, ký tên chung là "Nguyễn Ái Quốc", và đã gây được tiếng vang.

-

Mốc tiếp theo mà chúng ta cần nhớ đó là năm 1945. Năm đó Việt Nam giành được độc lập, hẳn nhiên rồi, vì vậy nên mốc năm 1945 liên quan đến tất cả người dân Việt Nam. Cái mà chúng ta cần nhớ liên quan đến Ông ngoại, đó là năm mà Ông được kết nạp vào Đảng (lúc đó là Đảng Cộng sản Đông Dương).

Đi làm cách mạng lúc đó không phải là để làm quan. Đi làm cách mạng lúc đó là để cống hiến, là hy sinh cho dân tộc, cho cộng đồng. Đi làm cách mạng để “bảo tồn sông núi”, theo tiếng gọi của “dòng máu Lạc Hồng”. Chú Lợi chép ra đây lời bài hát “Đoàn Vệ Quốc Quân (1945)” của tác giả Phan Huỳnh Điểu:

~

Đoàn Vệ Quốc Quân một lần ra đi

Nào có sá chi đâu ngày trở về

Ra đi ra đi bảo tồn sông núi

Ra đi ra đi thà chết chớ lui

 

Cờ bay phất phới ngời màu Lạc Hồng

Kèn reo vang tiếng gọi dòng Lạc Hồng

Cùng … Vệ Quốc Quân

Ra đi ra đi theo hồn sông núi

Thù bao năm xưa có bao giờ nguôi

Dưới cờ oai nghiêm sao vàng bay

Là Đoàn quân Việt Nam có hay

Ngày xưa biết bao vị hùng anh

Quyết vì non sông ra tay bao lần

Ngày nay đoàn quân ta gắng làm sao

Giành quyền tự do hạnh phúc cho dân!

 

Đoàn Vệ Quốc Quân một lần ra đi

Dù có gian nguy nhưng lòng không nề

Ra đi ra đi bảo tồn sông núi

Ra đi ra đi thà chết chớ lui…

Cờ bay phất phới ngời màu Lạc Hồng

Kèn reo vang tiếng gọi dòng Lạc Hồng

Cùng … Vệ Quốc Quân

~

Mốc tiếp theo là 10 năm từ năm 1945 đến 1955. Lúc này Ông ngoại lấy bí danh là Bế Chấn Biên. Để cho dễ, chúng ta chỉ cần lưu lại trong bộ nhớ các điểm sau:

Nhiệm vụ chính:        xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ; củng cố và phát triển vững chắc phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc.

Địa bàn hoạt động:    Quảng Ninh (lúc đó có tên là Hải Ninh) và Lạng Sơn.

Các chức vụ chính:    Ủy viên Việt Minh tại Quảng Ninh, Bí thư Huyện ủy Thoát Lãng, BCH Tỉnh Đảng bộ Lạng Sơn (phụ trách Kiểm tra Đảng), Trưởng Ban Công tác đường số 4 trong Chiến dịch Biên giới, Phó Binh trạm trưởng Binh trạm Biên giới.

~

Tuổi của Ông ngoại trong giai đoạn này là bao nhiêu? Từ 26 đến 36 tuổi! Những nhà cách mạng tiền bối đều giữ các trọng trách của quốc gia lúc họ còn rất trẻ.

-

Mốc tiếp theo là thời kỳ 20 năm từ 1956 đến 1976: Ông ngoại liên tục giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn, trong đó có 7 năm kiêm Bí thư Tỉnh ủy.

Cuối năm 1976, sáp nhập tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn thành tỉnh Cao Lạng. Lúc này Ông ngoại là Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Cao Lạng.

-

Đồng chí Bế Chấn Hưng, Chủ tịch UBND tỉnh thăm bệnh viện Lạng Sơn năm 1968.

-

Nguồn ảnh: Ảnh gốc lưu tại Bảo tàng Lạng Sơn – do cháu Nguyễn Hà Sơn liên hệ và sao chép (tháng 9/2025). Ảnh đã được chú Lợi nhờ phần mềm ChatGPT làm Ông sáng hơn, nổi bật hơn.


Đồng chí Bế Chấn Hưng - Chủ tịch UBND tỉnh nói chuyện tại hội nghị tổng kết khen thưởng những người có công trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thời kỳ 1945 -1975.

-

Nguồn ảnh: Ảnh gốc lưu tại Bảo tàng Lạng Sơn – do cháu Nguyễn Hà Sơn liên hệ và sao chép (tháng 9/2025). Ảnh đã được chú Lợi nhờ phần mềm ChatGPT làm Ông sáng hơn, nổi bật hơn. Ảnh đã được trưng bày tại gian triển lãm tỉnh Lạng Sơn tại Triển lãm thành tựu Đất nước nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh với chủ đề: “80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”.


---

Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc tấn công Việt Nam qua sáu tỉnh biên giới phía Bắc. Ông ngoại cùng cả gia đình phải tản cư về Hà Nội. Đây là một mốc thời gian đáng buồn, không chỉ riêng đối với Ông ngoại mà còn cho cả dân tộc Việt Nam. Bạn và Thù. Đối với từng cá nhân và từng gia đình, làm thế nào để phân biệt? Như câu nói của thủ tướng Anh Winston Churchill: “Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Ông ngoại và gia đình, bạn hữu đã phải trải qua một khúc quanh của lịch sử, chịu sự mất mát thiệt thòi một thời gian nhưng vẫn luôn tin tưởng vào sự phát triển trường tồn của đất nước, coi lợi ích quốc gia là trên hết, là vĩnh viễn.

-

Ông ngoại mất tại Hà Nội vào ngày 5 tháng 7 năm Mậu Thìn – tức ngày 16 tháng 8 năm 1988 dương lịch. Ông mất vì bị bệnh hiểm nghèo, nan y: ưng thư đại tràng. Ông ngoại được Nhà nước tổ chức lễ an táng rất trang trọng đưa thi hài từ Hà Nội lên thẳng Lạng Sơn.

Ông ngoại được tặng thưởng nhiều huân chương, nhưng đáng chú ý nhất là được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh vào năm 2011.

-

Nhìn lại sự nghiệp của Ông ngoại, chỉ riêng việc Ông đứng đầu chính quyền địa phương, tỉnh Lạng Sơn, trong suốt 20 năm (1956-1976) thì có lẽ sau này khó ai có thể sánh kịp.

Chúng ta biết rằng Bác Hồ đã trở về Cao Bằng vào năm 1941, lập căn cứ cách mạng để tiến tới giành được độc lập vào năm 1945. Rồi sau khi thực dân Pháp quay trở lại Việt Nam, chính quyền non trẻ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng lấy Việt Bắc làm căn cứ địa để kháng chiến. Tất cả đều gắn liền với đồng bào dân tộc ít người. Ông ngoại góp phần trong đó. Như vậy, có thể nói Ông ngoại đã ghi một dấu ấn đậm nét, ít nhất là đối với quê hương Lạng Sơn, trong thuở ban đầu của cách mạng. Chắc chắn Ông ngoại sẽ được ghi vào bảng vàng lịch sử của Lạng Sơn. Và đó, theo chú Lợi, là sự ghi danh, là sự thừa nhận cao quý nhất cho sự nghiệp của Ông ngoại.

---



 

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2025

Lễ cưới chú rể Trần Minh Trí & cô dâu Phạm Gia Diễm Hạnh (con Trần Xuân Minh & Nguyễn Thị Hồng Hạnh)


Thời gian:        11:00, Chủ Nhật, ngày 12 tháng 10 năm 2025 (21 tháng 08 năm Ất Tỵ)

Địa điểm:        INTERCONTINENTAL HANOI WESTLAKE, Phòng Tiệc Tầng 2 – Tòa Nhà Hội Thảo, 05 phố Từ Hoa, phường Tây Hồ, TP. Hà Nội

-

Chú rể: Trần Minh Trí

Cô dâu: Phạm Gia Diễm Hạnh

Nhà trai:

Mr. Trần Xuân Minh

Madame Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Nhà gái:

Mr. Phạm Văn Thà

Madame Lê Thị Ánh Sương

---

Ảnh:

Từ trái qua: Nhà gái: Mr. Phạm Văn Thà, Madame Lê Thị Ánh Sương, cô dâu Phạm Gia Diễm Hạnh, chú rể Trần Minh Trí, Nhà trai: Madame Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Mr. Trần Xuân Minh


Uyên ương Mr. Xuân Minh & Madame Hồng Hạnh

Lợi&Vân, Minh&Hạnh, Diễm Hạnh&Minh Trí, khách

Lợi&Vân, Hà&Dũng


Ảnh cũ : Du lịch Chùa Thầy (1997?)

Nguồn: Mr. Trần Xuân Minh

Bo&Đức

Minh&Hạnh&Bo, Đức&Vân&Lợi




Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2025

Le plat pays - par Jacques Brel - Lê Văn Lợi tổng hợp | 2021.07.21

Nhân kỷ niệm 194 năm ngày Quốc khánh Vương quốc Bỉ (21/07/1831 – 21/07/2025) - ngày Đức vua Leopold Đệ nhất, vị quốc vương đầu tiên lên ngôi – trân trọng gửi đến nhân dân Bỉ, các thành viên BelUnion cùng gia đình, bạn bè thân hữu những lời chúc tốt đẹp nhất, sức khỏe, hạnh phúc và an lành!

À l'occasion du 194e anniversaire de la Fête nationale du Royaume de Belgique (21/07/1831 – 21/07/2025) – jour de l'intronisation de Sa Majesté le Roi Léopold Ier, premier souverain du pays – nous adressons nos vœux les plus sincères de santé, de bonheur et de paix au peuple belge, aux membres de BelUnion ainsi qu'à leurs familles et amis.

~

Nhân dịp này xin giới thiệu với cả nhà bài hát “Le plat pays” do Jacques Brel sáng tác và thể hiện. Cùng với video bài hát, tôi mạo muội dịch lời bài hát với sự trợ giúp của một số công cụ dịch online. Vẫn biết “dịch” là “diệt”, đặc biệt là thơ, mà lại là thơ khó như của Jacques Brel - nhưng chúng ta vẫn mong muốn cảm nhận “song ngữ” – chấp nhận rằng chẳng có gì hoàn thiện.

~

Sau phần dịch là lời bình bài thơ do ChatGPT thể hiện. 😊

~

Jacques Brel - Le plat pays

Le Plat Pays (par Jacques Brel) → Biên dịch

~
Avec la mer du Nord→Với biển Bắc

Pour dernier terrain vague→Với bãi đất hoang vu cuối trời

Et des vagues de dunes→Và những con sóng cồn cát

Pour arrêter les vagues→Ngăn nước xô bờ

Et de vagues rochers→Và những tảng đá mơ hồ

Que les marées dépassent→Mà thủy triều lượn qua

Et qui ont à jamais le cœur→Và mãi mãi trong tim

À marée basse→Ở mức nước ròng

Avec infiniment de brumes à venir→Với sương mù vô tận ào tới

Avec le vent de l'est→Với gió Đông

Écoutez-le tenir→Như muốn níu giữ

Le plat pays→Vùng đất phẳng lặng

Qui est le mien→Nơi tôi thuộc về​


Avec des cathédrales→Với những nhà thờ lớn

Pour uniques montagnes→Là những ngọn núi độc đáo

Et de noirs clochers→Và những tháp chuông đen

Comme mâts de cocagne→Như cột buồm lễ hội

Où des diables en pierre→Nơi những con quỷ đá

Décrochent les nuages→Kéo mây xuống

Avec le fil des jours→Với dòng chảy tháng ngày

Pour unique voyage→Thay chuyến du hành độc nhất

Et des chemins de pluie→Và những con đường mưa

Pour unique bonsoir→Thay lời chào buổi tối

Avec le vent d'ouest→Với gió Tây

Écoutez-le vouloir→Lắng nghe nỗi niềm khao khát

Le plat pays→Vẫn vùng đất hiền hòa

Qui est le mien→Là xứ sở của tôi


Avec un ciel si bas→Với bầu trời thấp đến mức

Qu'un canal s'est perdu→Một con kênh đã lạc lối

Avec un ciel si bas→Với bầu trời thấp đến mức

Qu'il fait l'humilité→Tạo nên sự khiêm nhường

Avec un ciel si gris→Với bầu trời xám đến mức

Qu'un canal s'est pendu→Một con kênh đã mất

Avec un ciel si gris→Với bầu trời xám đến mức

Qu'il faut lui pardonner→Ta đành phải vị tha

Avec le vent du nord→Với gió Bắc

Qui vient s'écarteler→Đang bị xé toang

Avec le vent du nord→Với gió Bắc

Écoutez-le craquer→Hãy nghe tiếng gãy đứt

Le plat pays→Xứ sở hiền hòa

Qui est le mien→Xứ sở của tôi


Avec de l'Italie→Với chút gì đó của Ý

Qui descendrait l'Escaut→Xuôi dòng Escaut

Avec Frida la Blonde→Với Frida tóc vàng

Quand elle devient Margot→Khi nàng hóa thành Margot

Quand les fils de novembre→Khi những người con của tháng Mười Một

Nous reviennent en mai→Trở về vào tháng Năm

Quand la plaine est fumante→Khi đồng bằng sương khói

Et tremble sous juillet→Và run rẩy vào tháng Bảy

Quand le vent est au rire→Khi gió mang tiếng cười

Quand le vent est au blé→Khi gió mang hương lúa

Quand le vent est au sud→Khi gió thổi hướng Nam

Écoutez-le chanter→Hãy nghe gió hát

Le plat pays→Xứ sở bình yên

Qui est le mien→Nơi tôi thuộc về

---

Bình bài thơ “Le Plat Pays” của Jacques Brel

Credit: ChatGPT

Jacques Brel, danh ca và thi sĩ Bỉ gốc Wallonie, đã sáng tác bài thơ-chanson “Le Plat Pays” như một bản tình ca trầm lặng, sâu sắc dành cho quê hương Flandre – miền đồng bằng trống trải, thấp, trải dài bên bờ biển Bắc. Bài thơ, với phong cách đặc trưng của Brel – vừa lãng mạn, vừa cay đắng, vừa thiết tha – là một khúc ngợi ca mang tính biểu tượng về “vùng đất bằng phẳng” – không có núi non, không hùng vĩ, nhưng đầy nỗi niềm và bản sắc riêng biệt.


1. Không gian – “Vùng đất bằng phẳng” (Le plat pays)

Ngay từ nhan đề, “Le Plat Pays” đã khẳng định một đặc điểm địa lý, nhưng đó không chỉ là tả thực. "Vùng đất bằng phẳng" ở đây không chỉ là địa hình, mà là biểu tượng cho sự trống trải, mênh mông, buồn bã – và cũng là nơi chốn đầy gắn bó của tâm hồn thi sĩ.

“Avec la mer du Nord
Pour dernier terrain vague…”

Hình ảnh biển Bắc – lạnh lẽo, xám xịt, làm “mảnh đất trống cuối cùng” – gợi ra sự hoang vu, đơn độc. Những “vagues de dunes” (sóng cát), “vagues rochers” (đá lởm chởm), “brumes à venir” (làn sương mù còn chưa tới) – tất cả đều phủ lên vùng đất ấy một vẻ mờ ảo, bất định và u hoài. Đặc biệt, nhịp điệu chậm, lặp lại, và điệp ngữ “Le plat pays / Qui est le mien” (vùng đất bằng phẳng – là của tôi) như một lời khẳng định đầy yêu thương dù pha chút nỗi niềm.


2. Thời gian – sự đơn điệu và lặp lại

Brel không vẽ ra một quê hương thơ mộng đầy nắng hay ánh sáng. Ông mô tả nơi đó bằng những hình ảnh gần như tiêu cực: “le ciel si bas” (trời thấp đến mức kênh rạch lạc lối), “si gris” (xám xịt đến mức khiến người ta tự vẫn), “chemins de pluie” (con đường mưa thay cho lời chào buổi tối). Tất cả như diễn tả sự đơn điệu và buồn tẻ của cuộc sống thường nhật – nơi “le fil des jours” (chuỗi ngày) là chuyến đi duy nhất.

“Avec un ciel si gris
Qu’il faut lui pardonner”

Tuy nhiên, trong chính sự ảm đạm ấy, Brel vẫn thắp lên tình yêu âm thầm, vô điều kiện. Câu “qu’il faut lui pardonner” (ta phải tha thứ cho nó) thể hiện sự bao dung và gắn bó với nơi chốn, dù nó không lý tưởng.


3. Tâm trạng – sự giằng xé giữa gắn bó và khắc nghiệt

Sự thay đổi của gió từ Đông, Tây, Bắc, rồi Nam như những tâm trạng biến thiên của người con xa xứ nhớ quê hương. Gió Đông thì “tenir” (níu giữ), gió Tây thì “vouloir” (khao khát), gió Bắc thì “craquer” (nứt vỡ), và gió Nam thì “chanter” (hát vang). Gió chính là linh hồn của vùng đất ấy, như tâm trạng của người nghệ sĩ – đôi lúc khắc nghiệt, đôi lúc dịu dàng.


4. Sự sống và hoài niệm

Đoạn cuối là một cú chuyển cảm xúc quan trọng. Sau tất cả sự trống vắng và xám xịt, ta bắt gặp những tia sáng, những mộng mơ:

“Avec de l’Italie
Qui descendrait l’Escaut”

– Một chút nước Ý thơ mộng trôi dọc sông Escaut u buồn – như mong ước một vẻ đẹp nơi xứ sở tưởng chừng khô cằn.

“Quand la plaine est fumante
Et tremble sous juillet…”

– Khi đồng bằng rực lên khói nắng, khi gió mang theo tiếng cười, lúa chín và cả tình yêu – đó là lúc quê hương không chỉ là một chốn trống trải mà trở thành một vùng đất sống động, nhiều cảm xúc, đầy kỷ niệm.


Kết luận

“Le Plat Pays” là một bài thơ mang hơi thở chanson, giàu nhạc tính, thấm đẫm trữ tình. Nó không ngợi ca vẻ đẹp rực rỡ mà tôn vinh sự khiêm nhường, bền bỉ và chân thực của quê hương Brel – một vùng đất không có núi cao, không ánh hào quang, nhưng là “miền đất của tôi” – nơi trái tim luôn hướng về.

Đây không chỉ là một bài thơ – mà là một bản tình ca, một lời thú nhận của người con yêu quê bằng tất cả nỗi buồn và vẻ đẹp của chính nó.

~~~ 

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2025

Cưới con gái út bạn Ngô Hữu Cần (lớp chuyên Toán Quảng Bình 1974-1977) | 2025.07.14

⚭ 💕

Thời gian: ngày 14.07.2025

Địa điểm: Trung tâm tiệc cưới Tân Trường Xanh, 57 Nguyễn Công Trứ, P. Nam Lý, Tp. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

 

Cô dâu: Ngô Thị Minh Phương

Chú rể: Vũ Trọng Chính

---

Nhà Gái:

  • Ông Ngô Hữu Cần

  • Bà Trần Thị Lân

-

Nhà Trai:

  • Ông Vũ Kim Ngọc

  • Bà Cao Thị Hoa Hường

-

Thiệp mời

Chú rể trao nhẫn cưới cho cô dâu trước sự chứng kiến của ba mẹ cô dâu

Cô dâu chú rể & ba mẹ cô dâu

Cô dâu chú rể chụp ảnh cùng ba mẹ nhà Trai, ba mẹ nhà Gái

Cô dâu chú rể cùng mẹ cô dâu






 







Cưới con gái út bạn Ngô Hữu Cần (lớp chuyên Toán Quảng Bình 1974-1977) - 2025-07-14

2025-07-14 

Thời gian: ngày 14.07.2025

Địa điểm: Trung tâm tiệc cưới Tân Trường Xanh, 57 Nguyễn Công Trứ, P. Nam Lý, Tp. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

 

Cô dâu: Ngô Thị Minh Phương

Chú rể: Vũ Trọng Chính

---

Nhà Gái:

  • Ông Ngô Hữu Cần

  • Bà Trần Thị Lân

-

Nhà Trai:

  • Ông Vũ Kim Ngọc

  • Bà Cao Thị Hoa Hường

-


Thiệp mời

---


Chú rể trao nhẫn cưới cho cô dâu trước sự chứng kiến của ba mẹ cô dâu

---

Cô dâu chú rể & ba mẹ cô dâu

---

Cô dâu chú rể chụp ảnh cùng ba mẹ nhà Trai, ba mẹ nhà Gái

--- 

Cô dâu chú rể cùng mẹ cô dâu

---

Cập nhật thông tin cháu Đinh Thị Yến (con Liên - Toại)

Thứ Sáu 25/9/2026 (Rằm tháng Tám năm Bính Ngọ): gọi Zalo Cậu Lợi hỏi thăm tình hình lễ dạm ngõ con của Yến (cháu Nguyễn Thái Ngọc): Hai vợ c...